Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

THÁM HOA GIANG VĂN MINH (1573 - 1638)

By: Unknown On: 00:13
  • Share The Gag
  • Giang Văn Minh người thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Ông thi đỗ Thám hoa(1) khoá Mậu Thìn, đời Vua Lê Thần Tông năm 1628. Ông là người học rộng, tài cao, là nhà ngoại giao uyên bác, khảng khái, dũng cảm.

    Năm 1637, Vua Lê cử Thám hoa Giang Văn Minh đi sứ(2) Trung Hoa. Khi vào yết kiến Vua Minh, Vua Minh có ý thử tài sứ thần(3) nước Việt nên ra một vế đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Dịch nghĩa: Cột đồng đến nay đã phủ kín rêu phong). Vế đối của Vua Minh có ý ngạo mạn, nhắc đến việc Mã Viện xưa sang xâm lược nước ta, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã cho dựng cột đồng khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nghĩa là: cột đồng mà gãy thì dân Giao Chỉ diệt vong) như một lời nguyền nhân dân ta.

    Nghe xong, mặc dù Giang Văn Minh rất căm giận nhưng ông vẫn bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Dịch nghĩa: Sông Bạch Đằng từ ngàn xưa máu vẫn còn đỏ). Vế đối đanh thép, tỏ rõ khí phách anh hùng và lòng tự hào dân tộc, nhắc cho Vua Minh nhớ lại ba lần sông Bạch Đằng nhuốm máu quân xâm lược phương Bắc: Chiến thắng  quân Nam Hán của Ngô Quyền (năm 938), chiến thắng quân Tống của Lê Đại Hành (năm 981) và chiến thắng quân Nguyên Mông của Trần Hưng Đạo (năm 1288).
    Tưởng làm nhục được sứ thần nước Việt, ngờ đâu bị Giang Văn Minh làm nhục. Bất chấp luật lệ bang giao, Vua Minh đã hèn hạ sai quân lính mổ bụng ông xem “Sứ thần An Nam to gan lớn mật thế nào”.
    Đọc vế đối của Thám hoa? Vế đối đó muốn nhắc Vua Minh điều gì?
    Được tin Giang Văn Minh chết một cách anh dũng, Vua Lê và Chúa Trịnh vô cùng thương tiếc. Đích thân Vua đã về quê ông dự lễ an táng và tặng ông mấy chữ: “Đi sứ(3) mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ” và truy phong cho ông chức “Công bộ Tả thị lang(4), tước Vinh quận công(5)”.
    Hiện nay, tại thôn Mông Phụ vẫn còn Nhà thờ Giang Văn Minh. Nhà thờ  được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia năm 1989.
    Nguồn ST
    Sưu tầm bởi: Lang so que toi

    Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

    Chuyện tranh cười tổng hợp 2

    By: Unknown On: 02:30
  • Share The Gag



  • Nguồn ST

    Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

    Danh nhân hà tây- Phùng Hưng

    By: Giang Thịnh On: 19:27
  • Share The Gag
  • PHÙNG HƯNG (761 - 791) : Phùng Hưng là người thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, làm Hào trưởng(1) Đường Lâm. Phùng Hạp Khanh sinh được ba người con là Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Sau khi cha mất, Phùng Hưng nối nghiệp làm Hào trưởng Đường Lâm.

    Phùng Hưng là người tài trí và có sức khoẻ phi thường. Ông từng vật được trâu, đánh được hổ. Chứng kiến quân xâm lược nhà Đường bắt nhân dân ta nộp sưu cao, thuế nặng, Phùng Hưng rất đau lòng. Ông bàn kỹ với hai em quyết tâm phất cờ khởi nghĩa. Khi lực lượng đủ mạnh, ông chia quân làm 5 đạo tiến quân vây đánh thành Tống Bình(2). Sau bảy ngày đêm chiến đấu ác liệt, quân địch không chống cự nổi, bị thua to, phải rút vào thành cố thủ. Nghĩa quân vây đánh khắp bốn mặt thành. Viên quan đô hộ của giặc là Cao Chính Bình lo sợ quá phát ốm mà chết. Phùng Hưng đem quân vào chiếm thành, ông giữ quyền tự chủ được bảy năm thì mất.
    sau khi Phùng Hưng mất, nhân dân suy tôn ông là “Bố Cái Đại Vương”(3) và lập đền thờ ông tại thôn Cam Lâm - xã Đường Lâm. Hàng năm, cứ đến ngày 8 tháng giêng âm lịch, nhân dân địa phương lại tổ chức tưởng niệm vị Anh hùng dân tộc Phùng Hưng.
    Kiều Tập - ĐTT Sơn Tây
    Nguồn: TL LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG SƠN TÂY

    Danh nhân hà tây- Phan Kế Toại

    By: Giang Thịnh On: 19:23
  • Share The Gag
  • Phan Kế Toại (1892-1992[1]), quê làng Mông Phụ xã Đường Lâm thị xã Sơn Tây - Hà Nội, nguyên là Khâm sai Bắc Bộ của Chính phủ Trần Trọng Kim (Đế quốc Việt Nam thân Nhật), nhưng sau Cách mạng tháng Tám đã tham gia Việt Minh và trở thành Phó Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệm kỳ 1955-1961.

    Tiểu sử
    Phan Kế Toại sinh ra trong một gia đình quan lại (ông là con thứ 3 cử nhân Phan Kế Tiến, Tuần phủ tỉnh Phúc Yên), từ nhỏ đã được ra Hà Nội học phổ thông (Tây học), sau đó vào học trường Hậu bổ (trường hành chính quốc gia). Những năm 1911-1914, Phan Kế Toại được chính quyền bảo hộ của Pháp trao học bổng du học tại trường Hành chính thuộc địa Paris. Thời gian này Phan Kế Toại có gặp gỡ và quen biết Nguyễn Ái Quốc. 
    Năm 1914, Phan Kế Toại bắt đầu ra làm quan với chức tri huyện. Năm 1941, Phan Kế Toại giữ chứcTổng đốc Thái Bình. Năm 1944, lúc còn làm Tổng đốc Thái Bình, Phan Kế Toại đã ngầm ủng hộ Việt Minh bằng cách trao một tín phiếu 500 đồng bạc Đông Dương qua ông Nguyễn Công Liệu là một cán bộ Việt Minh.
    Tháng 3 năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp và dựng chính phủ Đế quốc Việt Nam lên, thì Phan Kế Toại được cử giữ chức Khâm sai Bắc Bộ. Khi quân Nhật ép ông phải biểu dụ dân chúng nhổ lúa trồng đay và nộp thóc cho Nhật, Phan Kế Toại đã cáo ốm. Đến tháng 7 năm 1945 ông xin từ chức nhưng chưa được chấp nhận, mà vẫn tạm quyền cho tới ngày 17 tháng 8 năm 1945 mới được chính thức thôi chức. Nhưng chính trong điều kiện tạm quyền như vậy, mà ông đã có khả năng góp phần quyết định hạn chế đổ máu khi Cách mạng tháng Tám nổ ra tại Hà Nội. 22 giờ ngày 17/8/1945, trước khi rời Bắc Bộ Phủ, Phan Kế Toại ra lệnh cho Chánh quản Lại (sở) cùng một bảo an binh tên là Nguyễn Sỹ Là, phải: "Tuyệt đối không được nổ súng và phải mở cửa ngay khi quân cách mạng tiến công". Nhờ nội ứng của Phan Kế Toại nên Việt Minh đã cướp chính quyền êm thấm tại Hà Nội và các tỉnh khác thuộc Bắc Bộ. 
    Năm 1947, Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giao cho ông làm quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
    (1) Cũng có tài liệu nói ông sinh năm 1898 và mất năm 1973 Xem bài "Làng Đường Lâm - Hà Tây: Đất hai vua"  .
          
                                                                                              Kiều Tập- ĐTT Sơn Tây
    Nguồn: NGUỒN TỪ: BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

    Ai là người hà nội đầu tiên?

    By: Unknown On: 18:08
  • Share The Gag
  • Ai là người hà nội đầu tiên? Gần đây, một cuộc khẩu chiến mang tên Hà Nội tràn ngập trên báo chí. Nhiều người tự xưng là người Hà Nội đổ tại người ngoại tỉnh làm nhiễu văn hoá thủ đô. Từ bên kia chiến tuyến, nhiều người ngoại tỉnh tại Hà Nội cho rằng người Hà Nội quá thực dụng, khiến nếp sống thành phố bị nhiễu sóng. Trong khi đó, nhiều người dân các tỉnh khác kẻ cả lên tiếng cùng báo Tàu Nhanh Việt Nam ”Hà Nội không bằng quê tôi”.
    Trước tình hình đó, Tin Khó Tin đã tiến hành điều tra xem ai là người Hà Nội đầu tiên, và thu được những kết quả đáng kinh ngạc.
    Một ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu “Người Hà Nội gốc” là ông An Dương Vương, tên thật là Thục Phán. Tuy nhiên nhiều nguồn tin cho rằng ông họ Thục, có nguồn gốc từ Trung Quốc, con gái ông cũng chê trai Việt mà lấy chồng người Trung Quốc, nên mặc dù ông đã có công xây thành Cổ Loa, khó có thể coi ông là người Hà Nội gốc.
    Theo nhiều nguồn tin khác, Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, một huyện ở phía Bắc Hà Nội, có thể coi là những người Hà Nội đầu tiên. Nhưng lịch sử cho thấy đến năm 1978 Mê Linh mới được sát nhập vào Hà Nội, chứng tỏ Hai Bà Trưng cũng chỉ là người Hà Nội 2 mà thôi.

    Một số những vị vua, quan, tướng khác như Lí Nam Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, vv mặc dù có công chống Trung Quốc nhưng đều là người quê ở Sơn Tây, mà ai cũng biết là Sơn Tây vốn thuộc Hà Tây, gần đây mới sát nhập vào Hà Nội. Nên tóm lại tất cả những danh nhân kể trên đều là người Hà Nội 2 tất, chưa được gọi là người Hà Nội gốc.
    Ông Lý Công Uẩn, người quyết định dời đô từ Hoa Lư Ninh Bình về Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay, có thể coi là một người tiên phong trong phong trào kiến tạo lịch sử văn hoá Hà Nội từ hàng nghìn năm qua. Tuy nhiên ông lại là người gốc Bắc Ninh. Do đó, ông Lý Công Uẩn không phải là “Người Hà Nội gốc”, mà có thể bị coi là người châm ngòi cho phong trào “Tiến về Hà Nội” của người dân các tỉnh thành khác.
    Tin Khó Tin lại càng không khỏi ngạc nhiên khi nhiều nhạc sĩ, hoạ sĩ, vv dẫn đầu chủ nghĩa “Hà Nội Đẹp như Nhạc, Thơ, Tranh” đều không phải là người Hà Nội. Cụ thể là:
    Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, người sáng tác bài hát “Người Hà Nội” lại sinh ra ở Luông Pra Băng, ở Lào
    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tác giả “Nhớ Mùa Thu Hà Nội” sinh ra ở Đắk Lắk và lớn lên ở Huế
    Hoạ sĩ Bùi Xuân Phái nổi tiếng với những bức tranh “phố Phái” nói lên thần thái phố cổ Hà Nội là người Hoài Đức, Hà Tây
    Nhà thơ Bùi Thanh Tuấn với tác phẩm được phổ nhạc thành bài hát “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa” là người Lâm Đồng
    Tác giả bài hát “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” ông Trần Quang Lộc là người Quảng Trị. Việc ông không phân biệt được đâu là mùa thu Hà Nội do đó cũng là điều dễ hiểu
    Vũ Bằng, tác giả của “Miếng Ngon Hà Nội” tuy sinh ra ở Hà Nội nhưng gia đình ông lại gốc Hải Dương
    Tô Hoài, nổi tiếng với những tác phẩm về Hà Nội những năm đầu thế kỉ 20 như “Chuyện Cũ Hà Nội” sinh ra ở Thanh Oai và lớn lên ở Hoài Đức, Hà Tây
    vv và vv

    Do Tin Khó Tin đã thất bại trong việc tìm ra ai là người Hà Nội gốc, chúng tôi kêu gọi độc giả tham gia giúp đỡ. Đề nghị độc giả nào có thể chứng tỏ rằng tổ tiên từ trước thời Lý Công Uẩn là người Hà Nội liên lạc với chúng tôi để nhận danh hiệu người Hà Nội gốc.
    Nguồn ST