Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tuc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

THÁM HOA GIANG VĂN MINH (1573 - 1638)

By: Unknown On: 00:13
  • Share The Gag
  • Giang Văn Minh người thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Ông thi đỗ Thám hoa(1) khoá Mậu Thìn, đời Vua Lê Thần Tông năm 1628. Ông là người học rộng, tài cao, là nhà ngoại giao uyên bác, khảng khái, dũng cảm.

    Năm 1637, Vua Lê cử Thám hoa Giang Văn Minh đi sứ(2) Trung Hoa. Khi vào yết kiến Vua Minh, Vua Minh có ý thử tài sứ thần(3) nước Việt nên ra một vế đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Dịch nghĩa: Cột đồng đến nay đã phủ kín rêu phong). Vế đối của Vua Minh có ý ngạo mạn, nhắc đến việc Mã Viện xưa sang xâm lược nước ta, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã cho dựng cột đồng khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nghĩa là: cột đồng mà gãy thì dân Giao Chỉ diệt vong) như một lời nguyền nhân dân ta.

    Nghe xong, mặc dù Giang Văn Minh rất căm giận nhưng ông vẫn bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Dịch nghĩa: Sông Bạch Đằng từ ngàn xưa máu vẫn còn đỏ). Vế đối đanh thép, tỏ rõ khí phách anh hùng và lòng tự hào dân tộc, nhắc cho Vua Minh nhớ lại ba lần sông Bạch Đằng nhuốm máu quân xâm lược phương Bắc: Chiến thắng  quân Nam Hán của Ngô Quyền (năm 938), chiến thắng quân Tống của Lê Đại Hành (năm 981) và chiến thắng quân Nguyên Mông của Trần Hưng Đạo (năm 1288).
    Tưởng làm nhục được sứ thần nước Việt, ngờ đâu bị Giang Văn Minh làm nhục. Bất chấp luật lệ bang giao, Vua Minh đã hèn hạ sai quân lính mổ bụng ông xem “Sứ thần An Nam to gan lớn mật thế nào”.
    Đọc vế đối của Thám hoa? Vế đối đó muốn nhắc Vua Minh điều gì?
    Được tin Giang Văn Minh chết một cách anh dũng, Vua Lê và Chúa Trịnh vô cùng thương tiếc. Đích thân Vua đã về quê ông dự lễ an táng và tặng ông mấy chữ: “Đi sứ(3) mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ” và truy phong cho ông chức “Công bộ Tả thị lang(4), tước Vinh quận công(5)”.
    Hiện nay, tại thôn Mông Phụ vẫn còn Nhà thờ Giang Văn Minh. Nhà thờ  được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia năm 1989.
    Nguồn ST
    Sưu tầm bởi: Lang so que toi

    Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

    Danh nhân hà tây- Phùng Hưng

    By: Giang Thịnh On: 19:27
  • Share The Gag
  • PHÙNG HƯNG (761 - 791) : Phùng Hưng là người thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, làm Hào trưởng(1) Đường Lâm. Phùng Hạp Khanh sinh được ba người con là Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Sau khi cha mất, Phùng Hưng nối nghiệp làm Hào trưởng Đường Lâm.

    Phùng Hưng là người tài trí và có sức khoẻ phi thường. Ông từng vật được trâu, đánh được hổ. Chứng kiến quân xâm lược nhà Đường bắt nhân dân ta nộp sưu cao, thuế nặng, Phùng Hưng rất đau lòng. Ông bàn kỹ với hai em quyết tâm phất cờ khởi nghĩa. Khi lực lượng đủ mạnh, ông chia quân làm 5 đạo tiến quân vây đánh thành Tống Bình(2). Sau bảy ngày đêm chiến đấu ác liệt, quân địch không chống cự nổi, bị thua to, phải rút vào thành cố thủ. Nghĩa quân vây đánh khắp bốn mặt thành. Viên quan đô hộ của giặc là Cao Chính Bình lo sợ quá phát ốm mà chết. Phùng Hưng đem quân vào chiếm thành, ông giữ quyền tự chủ được bảy năm thì mất.
    sau khi Phùng Hưng mất, nhân dân suy tôn ông là “Bố Cái Đại Vương”(3) và lập đền thờ ông tại thôn Cam Lâm - xã Đường Lâm. Hàng năm, cứ đến ngày 8 tháng giêng âm lịch, nhân dân địa phương lại tổ chức tưởng niệm vị Anh hùng dân tộc Phùng Hưng.
    Kiều Tập - ĐTT Sơn Tây
    Nguồn: TL LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG SƠN TÂY

    Danh nhân hà tây- Phan Kế Toại

    By: Giang Thịnh On: 19:23
  • Share The Gag
  • Phan Kế Toại (1892-1992[1]), quê làng Mông Phụ xã Đường Lâm thị xã Sơn Tây - Hà Nội, nguyên là Khâm sai Bắc Bộ của Chính phủ Trần Trọng Kim (Đế quốc Việt Nam thân Nhật), nhưng sau Cách mạng tháng Tám đã tham gia Việt Minh và trở thành Phó Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệm kỳ 1955-1961.

    Tiểu sử
    Phan Kế Toại sinh ra trong một gia đình quan lại (ông là con thứ 3 cử nhân Phan Kế Tiến, Tuần phủ tỉnh Phúc Yên), từ nhỏ đã được ra Hà Nội học phổ thông (Tây học), sau đó vào học trường Hậu bổ (trường hành chính quốc gia). Những năm 1911-1914, Phan Kế Toại được chính quyền bảo hộ của Pháp trao học bổng du học tại trường Hành chính thuộc địa Paris. Thời gian này Phan Kế Toại có gặp gỡ và quen biết Nguyễn Ái Quốc. 
    Năm 1914, Phan Kế Toại bắt đầu ra làm quan với chức tri huyện. Năm 1941, Phan Kế Toại giữ chứcTổng đốc Thái Bình. Năm 1944, lúc còn làm Tổng đốc Thái Bình, Phan Kế Toại đã ngầm ủng hộ Việt Minh bằng cách trao một tín phiếu 500 đồng bạc Đông Dương qua ông Nguyễn Công Liệu là một cán bộ Việt Minh.
    Tháng 3 năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp và dựng chính phủ Đế quốc Việt Nam lên, thì Phan Kế Toại được cử giữ chức Khâm sai Bắc Bộ. Khi quân Nhật ép ông phải biểu dụ dân chúng nhổ lúa trồng đay và nộp thóc cho Nhật, Phan Kế Toại đã cáo ốm. Đến tháng 7 năm 1945 ông xin từ chức nhưng chưa được chấp nhận, mà vẫn tạm quyền cho tới ngày 17 tháng 8 năm 1945 mới được chính thức thôi chức. Nhưng chính trong điều kiện tạm quyền như vậy, mà ông đã có khả năng góp phần quyết định hạn chế đổ máu khi Cách mạng tháng Tám nổ ra tại Hà Nội. 22 giờ ngày 17/8/1945, trước khi rời Bắc Bộ Phủ, Phan Kế Toại ra lệnh cho Chánh quản Lại (sở) cùng một bảo an binh tên là Nguyễn Sỹ Là, phải: "Tuyệt đối không được nổ súng và phải mở cửa ngay khi quân cách mạng tiến công". Nhờ nội ứng của Phan Kế Toại nên Việt Minh đã cướp chính quyền êm thấm tại Hà Nội và các tỉnh khác thuộc Bắc Bộ. 
    Năm 1947, Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giao cho ông làm quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
    (1) Cũng có tài liệu nói ông sinh năm 1898 và mất năm 1973 Xem bài "Làng Đường Lâm - Hà Tây: Đất hai vua"  .
          
                                                                                              Kiều Tập- ĐTT Sơn Tây
    Nguồn: NGUỒN TỪ: BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

    Ai là người hà nội đầu tiên?

    By: Unknown On: 18:08
  • Share The Gag
  • Ai là người hà nội đầu tiên? Gần đây, một cuộc khẩu chiến mang tên Hà Nội tràn ngập trên báo chí. Nhiều người tự xưng là người Hà Nội đổ tại người ngoại tỉnh làm nhiễu văn hoá thủ đô. Từ bên kia chiến tuyến, nhiều người ngoại tỉnh tại Hà Nội cho rằng người Hà Nội quá thực dụng, khiến nếp sống thành phố bị nhiễu sóng. Trong khi đó, nhiều người dân các tỉnh khác kẻ cả lên tiếng cùng báo Tàu Nhanh Việt Nam ”Hà Nội không bằng quê tôi”.
    Trước tình hình đó, Tin Khó Tin đã tiến hành điều tra xem ai là người Hà Nội đầu tiên, và thu được những kết quả đáng kinh ngạc.
    Một ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu “Người Hà Nội gốc” là ông An Dương Vương, tên thật là Thục Phán. Tuy nhiên nhiều nguồn tin cho rằng ông họ Thục, có nguồn gốc từ Trung Quốc, con gái ông cũng chê trai Việt mà lấy chồng người Trung Quốc, nên mặc dù ông đã có công xây thành Cổ Loa, khó có thể coi ông là người Hà Nội gốc.
    Theo nhiều nguồn tin khác, Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, một huyện ở phía Bắc Hà Nội, có thể coi là những người Hà Nội đầu tiên. Nhưng lịch sử cho thấy đến năm 1978 Mê Linh mới được sát nhập vào Hà Nội, chứng tỏ Hai Bà Trưng cũng chỉ là người Hà Nội 2 mà thôi.

    Một số những vị vua, quan, tướng khác như Lí Nam Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, vv mặc dù có công chống Trung Quốc nhưng đều là người quê ở Sơn Tây, mà ai cũng biết là Sơn Tây vốn thuộc Hà Tây, gần đây mới sát nhập vào Hà Nội. Nên tóm lại tất cả những danh nhân kể trên đều là người Hà Nội 2 tất, chưa được gọi là người Hà Nội gốc.
    Ông Lý Công Uẩn, người quyết định dời đô từ Hoa Lư Ninh Bình về Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay, có thể coi là một người tiên phong trong phong trào kiến tạo lịch sử văn hoá Hà Nội từ hàng nghìn năm qua. Tuy nhiên ông lại là người gốc Bắc Ninh. Do đó, ông Lý Công Uẩn không phải là “Người Hà Nội gốc”, mà có thể bị coi là người châm ngòi cho phong trào “Tiến về Hà Nội” của người dân các tỉnh thành khác.
    Tin Khó Tin lại càng không khỏi ngạc nhiên khi nhiều nhạc sĩ, hoạ sĩ, vv dẫn đầu chủ nghĩa “Hà Nội Đẹp như Nhạc, Thơ, Tranh” đều không phải là người Hà Nội. Cụ thể là:
    Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, người sáng tác bài hát “Người Hà Nội” lại sinh ra ở Luông Pra Băng, ở Lào
    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tác giả “Nhớ Mùa Thu Hà Nội” sinh ra ở Đắk Lắk và lớn lên ở Huế
    Hoạ sĩ Bùi Xuân Phái nổi tiếng với những bức tranh “phố Phái” nói lên thần thái phố cổ Hà Nội là người Hoài Đức, Hà Tây
    Nhà thơ Bùi Thanh Tuấn với tác phẩm được phổ nhạc thành bài hát “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa” là người Lâm Đồng
    Tác giả bài hát “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” ông Trần Quang Lộc là người Quảng Trị. Việc ông không phân biệt được đâu là mùa thu Hà Nội do đó cũng là điều dễ hiểu
    Vũ Bằng, tác giả của “Miếng Ngon Hà Nội” tuy sinh ra ở Hà Nội nhưng gia đình ông lại gốc Hải Dương
    Tô Hoài, nổi tiếng với những tác phẩm về Hà Nội những năm đầu thế kỉ 20 như “Chuyện Cũ Hà Nội” sinh ra ở Thanh Oai và lớn lên ở Hoài Đức, Hà Tây
    vv và vv

    Do Tin Khó Tin đã thất bại trong việc tìm ra ai là người Hà Nội gốc, chúng tôi kêu gọi độc giả tham gia giúp đỡ. Đề nghị độc giả nào có thể chứng tỏ rằng tổ tiên từ trước thời Lý Công Uẩn là người Hà Nội liên lạc với chúng tôi để nhận danh hiệu người Hà Nội gốc.
    Nguồn ST

    Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

    Lễ hội chùa trăm gian

    By: Unknown On: 18:54
  • Share The Gag
  • Chùa Trăm Gian, còn gọi là chùa Núi, chùa Tiên Lữ, thuộc xã Tiên Phương, Huyện Chương Mỹ. Hàng năm chùa mở hội vào ngày mồng 4 tháng giêng, đó là ngày  hoá của Đức Bồ tát khai Sơn- Nguyễn Bình An. Ông tu tại ngôi chùa này và là người nổi tiếng là thông tuệ phật pháp và có nhiều phép lạ giũp đớ dân chúng .
    Lễ hội chùa Trăm Gian là lễ hội vùng, gồm các thôn như thôn Nội, thôn Thượng, thôn Phương Khê, ( thuộc xã Tiên phương) và thôn Thổ Nghĩa ( nay thuộc xã Tân Hoà, Quốc Oai)
    Phần lễ của hội bao gồm: Đại đám có rước kiệu Thánh, rước nhang yến (án), rước giá cỗ (cỗ bánh chưng bánh dày của nhà chùa), rước giá văn bản (để bản văn tế), rước mâm ngũ quả và bát nhang.
    Riêng kiệu Thánh là kiệu bát công do 18 người khiêng, mỗi giá rước có bốn người khiêng.Người rước đều mặc áo Mã tiền gồm trong là thân áo, ngoài đính các dải phướn màu xanh-đỏ-tím-vàng phía trên nhỏ bằng đũa cả, phía dưới to bằng mái chèo.
    Ngày mùng 4, bắt đầu vào giờ Thìn (7-9 giờ sáng) thì rước kiệu ra sập đá trước nhà Tiền đường để trí kiệu (tức chồng đòn), cắm tàn quạt xung quanh và bày dàn bát bửu. Sau đó rước xuống núi theo đường chữ chi từ chùa xuống gác chuông thì vòng qua phải rồi quay lại đi giữa nhà giá ngự và hồ bán nguyệt để ra đường làng, từ đây đi thẳng ra Quán Thánh ở giữa đồng chiêm là nơi có dấu tích bước chân thứ nhất của Thánh về quê xin tương cà.
    Đến hòn đá ở Quán Thánh thì tổ chức tế. Chỉ huy đám rước là ông Quản Tuần cùng các chức sắc chánh phó tổng, do trương tuần dẹp đường. Tế xong thì rước về, khi đi đến chân núi thì rước thẳng lên chùa mà không phải đi chữ chi nữa.
    Đến tối Thánh hoàn cung thì đoàn Mai Lĩnh phải vào trước cửa điện Thánh làm lễ trình rối với ý nghĩa là sự trình diện của quân Minh xưa.
    Tương truyền, khi quân Minh sang xâm lược kéo đến giết người, cướp của, đốt chùa vô cùng tàn ác, ngài làm ra mưa máu khiến chúng bị bệnh mà chết rất nhiều, phải rút đi. Sau khi quân Minh kéo về nước, còn một số ít xin ở lại lập nghiệp tại Mai Lĩnh. Vì  thế hằng năm cứ đến đêm chính hội chùa Trăm Gian (đêm mồng bốn tháng Giêng) dân Mai Lĩnh, nay thuộc quận Hà Đông lại cử một đoàn người đến lễ trình con rối như một nghi thức trình diện của quân Minh xưa. Nếu như năm nào không lễ trình thì y như rằng không bị hỏa hoạn cũng làm ăn thua lỗ.
    Đoàn Mai Lĩnh có 4-5 người, gồm một người gánh những con rối đựng trong hai bồ to và mấy người đi trình rối. Khi trình rối, họ căng màn lên, người trình đứng sau màn lần lượt giơ con rối bà mẹ rồi thứ tự rối các con. Trình xong, các con rối được cất đi để năm sau dùng lại, sáng hôm sau đoàn về.
    Về mâm “ngũ quả” thực ra có nhiều thứ quả gồm chuối tiêu sáu nải, cam đường 10 quả, cam sành 10 quả, quýt 10 quả, bưởi đào một quả, bưởi chua một quả, bưởi đường một quả, bưởi gấc một quả, na một quả, mít một quả, dứa một quả… càng nhiều thứ quả càng tốt.
    Trong hội rước ngày mùng 4, cỗ chay do nhà chùa sửa, có 16 bánh chưng và 16 bánh dày, cúng xong chia đều cho bốn thôn.
    Đoàn đại biểu Bối Khê quê hương Đức Thánh sang dự hội chùa Trăm Gian được gọi là các cụ Sãi quan anh, gồm tám cụ ông và tám cụ bà. Đến hội chùa Bối Khê 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của “tứ bích” lên dự cũng được gọi như thế.
    Để đón tiếp, làng bình chọn trong “Tứ bích” mỗi thôn hai người, phải là người cao tuổi, có uy tín trong dân, đạo cao đức trọng, đủ tư cách, khi tiếp chuyện phải nói năng lễ độ, nhún nhường, hàn huyên thân tình sau một năm xa cách. Các cụ Sãi Bối Khê được lấy từ bảy sào ruộng do làng cấp để tổ chức hai bữa cơm (trưa ngày 4, sáng ngày 5) và một bữa nước (tối ngày 4). Cỗ chứa Sãi rất to bày trên mâm vuông hai tầng. Trưa ngày 5 dân anh trở về.
    Ngày 5 thổi cỗ chùa, người đến lượt phải làm không được cấp ruộng. Từ tối hôm trước, gia đình thổi cỗ đã cho người đi mời khắp lượt, người đến chùa đều có quà mừng. Gia đình phải chuẩn bị gạo ngon, rá mới để vo và chậu mới để đựng cơm canh. Vo gạo cả dãy dài, ông chủ đi xem thọc tay vào từng rá gạo để kiểm tra. Ăn cỗ chùa vào trưa ngày 5.
    Đặc biệt những gia đình được chọn thi cỗ chay (xôi, chuối) để tế tạ ngày 6, phải chuẩn bị từ nhiều tháng trước.
    Phần hội rất phong phú và độc đáo bao gồm: Thổi cỗ chùa, Thi oản chuối, múa rối, đốt pháo, đâud vật…. Đặc sắc nhất là cờ người. Nên hội chùa Trăm Gian còn được gọi là lễ hội đánh cờ người.

    Hội pháo cũng sôi nổi, có pháo bông, pháo hoa, pháo ném vào màn pháo trên cao, pháo chuột, pháo nhị thanh.
    Lễ hội là sự kết hợp hài hoà giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Lại có yếu tố cài đan cài của thuyết Âm dương Ngũ Hành, chịu ảnh hưởng của Đao Giáo. Là một trong những lễ hội đậm yếu tố trí tuệ.
    Nguồn ST

    Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

    Các lễ hội truyền thống hà tây cũ

    By: Unknown On: 18:06
  • Share The Gag
  • Lễ hội truyền thống
    Như để ghi nhớ cho những ngày Hà Tây cũ, điểm danh những lễ hội đậm nét Hà Tây. Người Hà Tây bây giờ đã dần quen với cái tên người Hà Nội nhưng văn hóa một đời đâu thể dễ phai màu.
    Hà Tây có rất nhiều lễ hội mang đặc trưng của lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có lễ hội riêng. Mỗi lễ hội như một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc. Du khách sẽ bắt gặp những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của cư dân nông nghiệp để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tôn vinh, tưởng nhớ những vị anh hùng, những người có công lao với đất nước, với làng xã được tôn làm phúc thần bảo hộ. Lễ hội cũng là dịp để du khách tham dự vào những trò chơi dân gian như đấu vật, đánh cờ người, thổi cơm thi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà… hay xem các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống như hát dô, hát chèo tầu, múa rối nước, múa rôi cạn …
    MỘT SỐ LỄ HỘI NỔI BẬT
    1. Hội Chùa Bối Khê xã Tam Hưng, Thanh Oai mở vào ngày 2 tháng Giêng âm lịch, thờ phật và đức thánh Bối Nguyễn Bình An. Trong hội có lễ rước kiệu, đánh cờ người.
    2. Hội Chùa Trăm Gian xã Tiên Phương, Chương Mỹ là lễ hội thờ phật diễn ra từ ngày 4 đến ngày 6 tháng Giêng âm lịch. Trong hội có lễ rước kiệu, múa rối nước, đấu vật.
    3. Hội Chùa Hương xã Hương Sơn, Mỹ Đức là lễ hội dài nhất Việt Nam từ ngày 6 tháng Giêng đến ngày 25 tháng Ba âm lịch. Du khách thập phương về đây lễ phật cầu may và tham quan khu danh thắng Hương Sơn.
    4. Hội Quán Thánh xã Thống Nhất, Thường Tín mở vào ngày 8 tháng Giêng âm lịch thờ thành hoàng là Thánh Gióng, người có công đánh giặc Ân bảo vệ đất nước. Trong hội có lễ dâng hương, đánh cờ người.
    5. Hội Chùa Đậu xã Nguyễn Trãi, Thường Tín diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Giêng âm lịch thờ thần Pháp vũ, bà Đậu. Trước đây là lễ cầu mưa của vua chúa phong kiến, nay là dịp lễ phật cầu may đầu xuân của dân trong vùng.
    6. Hội làng Chuông xã Phương Trung, Thanh Oai diễn ra vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công ơn của Bố cái đại vương Phùng Hưng. Trong hội có lễ dâng hương, rước kiệu, hội thổi cơm thi. Đây còn là làng làm nón lá cổ truyền nổi tiếng.
    7. Hội Dô xã Tuyết Nghĩa, Quốc Oai 36 năm mới mở hội một lần diễn ra từ ngày 10 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công lao của đức thánh Tản Viên, người đã truyền dạy dân làng các điệu hát Dô. Trong hội có các trò chơi như bơi thuyền, múa rối và đặc biệt không thể thiếu hội thi hát Dô.
    8. Hội làng Đa Sĩ xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông diễn ra từ ngày 12 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công lao của thành hoàng và cũng là ông tổ nghề rèn, Hoàng Đôn Hoà. Trong hội có các nghi lễ như rước kiệu, múa rồng.
    9. Hội Đình Tây Đằng thị trấn Tây Đằng, Ba Vì diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, tưởng nhớ công lao đức thánh Tản Viên và hai vị tướng của ông là Cao Sơn và Quý Minh. Trong lễ hội có lễ dâng hương, rước kiệu và bài vị của ba thánh
    10. Hội Đền Và xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây mở vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, thờ đức thánh Tản Viên. Trong hội có lễ dâng hương, cứ vào năm chẵn lại có lễ rước kiệu lên đền thượng trên đỉnh Ba Vì, lễ tắm tượng, tục đánh cá.
    11. Hội làng La Khê xã Văn Phú, thị xã Hà Đông mở ngày 15 tháng Giêng âm lịch với nghi lễ dâng hương, rước kiệu và các trò chơi dân gian như đấu vật, thi võ, đập niêu, thổi cơm thi.
    12. Hội hát Chèo tầu xã Tân Hội, Đan Phượng, trước đây 30 năm mới mở một lần ngày nay từ 5 đến 7 năm mở hội từ ngày 15 đến ngày 23 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công đức của Văn Dĩ Thành một viên tướng có công đánh giặc dưới thời nhà Trần. Trong hội có biểu diễn hát chèo tầu trên các mô hình thuyền rồng và các trò chơi dân gian khác, đây là một lễ hội dân gian rất độc đáo và đặc sắc của vùng văn hoá xứ Đoài.
    13. Hội làng Yên Nội xã Đông Quang, Quốc Oai diễn ra vào ngày 10 tháng Hai âm lịch với các nghi lễ như rước kiệu, dâng hương, đấu vật, thi võ để tưởng nhớ công đức của tướng quân Cao Lỗ thời An Dương Vương.
    14. Hội Chùa Thầy xã Sài Sơn, Quốc Oai diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng Ba âm lịch để tưởng nhớ đức thánh Từ Đạo Hạnh người đã tu thành chính quả tại Chùa Thầy. Trong hội có lễ rước kiệu và các trò vui dân gian như múa rối nước, đấu vật
    15. Hội Chùa Tây Phương xã Thạch Xá, Thạch Thất diễn ra vào ngày 6 tháng Ba âm lịch là lễ hội cầu phật với các hoạt động văn hoá dân gian như múa rối nước, đấu vật, múa sư tử.
    16. Hội đền Hát Môn (đền thờ Hai Bà Trưng) xã Hát Môn, Phúc Thọ diễn ra vào ngày 6 tháng Ba âm lịch, tương truyền là ngày mất của hai Bà. Lễ hội là dịp nhân dân tưởng nhớ công lao của Hai Bà Trưng với những nghi lễ như dâng hương, rước kiệu và các trò vui như bơi trải, đấu vật
    17. Hội Giá xã Yên Sở, Hoài Đức diễn ra từ ngày 10 đến ngày 26 tháng Ba âm lịch tưởng nhớ công lao của Lý Phục Man một vị tướng dưới thời Lý Nam Đế. Trong hội có rước kiệu, thi võ, đấu vật.
    18. Hội thả diều Bá Giang xã Hồng Hà, Đan Phượng diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch là dịp tưởng nhớ công ơn của Nguyễn Cả, người đã dạy dân làng làm diều. Trong hội có thi chim, thi diều và các trò vui dân gian khác.
    19. Hội bãi Tự Nhiên xã Tự Nhiên, Thường Tín diễn ra từ ngày 30 tháng Ba đến ngày 2 tháng Tư âm lịch kỷ niệm chuyện tình yêu cảm động giữa công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, chàng trai đánh cá nghèo. Trong hội có các nghi lễ như rước kiệu, dâng hương và các nghi lễ miêu tả câu chuyện tình của Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
    20. Hội làng Tri Chỉ xã Tri Trung, Phú Xuyên vào ngày 4 tháng Tư âm lịch là ngày giỗ của Linh Lang đại vương, người đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Trong hội có lễ dâng hương, rước kiệu và các trò chơi dân gian khác.

    Theo hokhuatvietnam.org

    Người Hà tây cũ đang bị phân biệt và đối xử

    By: Unknown On: 17:56
  • Share The Gag
  • Sáp nhập vào TP. Hà Nội đã 5 năm, nhưng đến nay người dân trên một số địa bàn thuộc tỉnh Hà Tây cũ vẫn phải chịu mức phí đi xe buýt cao hơn nhiều so với người dân ở nội thành Hà Nội.
    Cũng là công dân Hà Nội, cũng được tiếng là người Thủ đô, thế nhưng đã gần 5 năm nay những người dân thuộc thị xã Sơn Tây vẫn phải chịu mức phí xe buýt cao hơn khoảng 3 lần, so với mức phí người dân nội đô chi trả. 

    Giá vé cho một lần đi từ Sơn Tây đến Hà Nội là 22.000 đồng, nhưng cũng cùng một khoảng cách tuyến xe buýt từ Hà Nội đi Bắc Ninh hay từ Long Biên đi Phố Nỉ, giá chỉ 7.000 đồng.

    Trong khi đó, hành khách đi xe phổ biến là người có thu nhập thấp và sinh viên. Sự chênh lệch đáng kể về giá vé xe buýt trên các tuyến đường khác nhau, đang gây nhiều bức xúc cho người dân.


    Ông Chu Tiến Đạt, hành khách đi xe buýt, cho biết: “Cùng là người Hà Nội, cùng sống trong nội thành mà lại có giá nọ giá kia, tôi thấy rất thắc mắc”.

    Anh Khuất Văn Trọng, một người dân Hà Nội cũng tỏ ra khá bức xúc: “Tôi thấy giá vé thật không công bằng. Nếu mọi người đi từ Mỹ Đình - Phúc Thọ với giá chỉ 7.000 đồng, trong khi đó giá vé đi Mỹ Đình - Sơn Tây lại lên tới 22.000 đồng. Điều đáng nói là cung đường Mỹ Đình - Sơn Tây chỉ dài hơn cung đường Mỹ Đình - Phúc Thọ vài km”.


    Sáp nhập vào TP. Hà Nội đã 5 năm, nhưng đến nay người dân trên một số địa bàn thuộc tỉnh Hà Tây cũ vẫn phải chịu mức phí đi xe buýt cao hơn nhiều so với người dân ở nội thành Hà Nội. 
    Trước những thắc mắc trên của người dân, nhóm phóng viên đã tới gặp ông Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Trung tâm quản lý điều hành giao thông đô thị Hà Nội.

    Câu trả lời chúng tôi nhận được là “Năm 2008, sau khi mở rộng địa giới hành chính, các tuyến trước đây thuộc huyện Hà Tây cũ và một số tuyến chạy kế cận nối Hà Nội và Hà Tây trở thành tuyến nội đô thuộc Hà Nội. Phương án hợp nhất đã được thành phố phê duyệt. Tôi hi vọng trong quý 2 hoặc quý 3 năm nay, chúng ta sẽ có những tuyến đầu tiên của hệ thống cũ được đưa vào sử dụng”, ông Hải nói.

    Đã 5 năm, Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, nhưng sự khác biệt đến thời điểm này vẫn chưa được giải quyết. Lời hứa "đến quí 3" đang mang lại cho người đi xe buýt trên tuyến đường này nhiều hy vọng.

    Trong lúc chờ đợi cho đến quý 3, nhiều hành khách đặc biệt là sinh viên đành sử dụng phương án chuyển xe liên tục, để tận dụng tối đa các tuyến đường được trợ giá. Mất thêm thời gian, công sức nhưng bù lại họ sẽ tiết kiệm được từ vài nghìn cho đến cả chục nghìn đồng.

    Tuy nhiên, người lớn tuổi, người già về hưu, một số đối tượng cũng thường xuyên phải sử dụng xe buýt lại không có sức để lên xe, xuống xe liên tục như vậy. Vì vậy, mọi người chỉ còn mỗi cách là chờ đợi: Bao giờ cho đến quý 3 để đề xuất trợ giá được thực hiện như đã hứa?
    Nguồn VTC News